Theo quan điểm của C.Mác-kinh tế hàng
hoá không phải là một phương thức sản xuất độc lập mà là một hình thức tổ chức
kinh tế tồn tại trong các phương thức xã hội. Với phạm vi và mức độ khác
nhau,tuy cùng là nền kinh tế hàng hoá nhưng bản chất của xã hội quy định đặc điểm
của kinh tế hàng hoá của xã hội đó. Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa
nên vai trò quản lý của nhà nước định hướng nền kinh tế hàng hoá theo chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam. Đất nước ta vốn là thuộc địa nửa phong kiến với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất xã hội rất thấp. Đất nước lại trải qua hàng
chục năm chiến tranh để lại hậu quả nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến
còn nhiều, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp.
Chính vì vậy, nhà nước ta khẳng định chỉ có thể phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần mới phát triển được lực lượng sản xuất;mới thúc đẩy sự nghiệp
Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá; mới đẩy lùi được kinh tế tự nhiên; khắc phục được
hậu quả của kinh tế kế hoạch hoá tập trung; mới làm cho kinh tế nước ta hoà nhập
vào kinh tế khu vực và thế giới. Đại hội VI của Đảng năm1986 đã đặt nền
móng vững chắc cho quan điểm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hướng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Sự phát triển sản xuất, mở rộng và giao
lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước... không chỉ làm cho đời sống
vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và
đa dạng hơn. Nền sản xuất hàng hóa ở nước ta thời gian qua là một nền sản xuất
vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều chỉnh của chính phủ theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. đứng trước vận hội mới của đất nước, nền sản xuất hàng hóa ở
nước ta có những thuận lợi nhất định và những khó khăn không nhỏ.
1. Thành tựu đạt được:
-
Thứ nhất, về tốc độ tăng trưởng kinh tế
+ Trong hơn 30 năm qua (1986-2018),
tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta tuy có sự dao động nhất định, song vẫn ở mức cao hơn
trung bình khu vực và thế giới với mức tăng bình quân cả thời kỳ gần 7%/năm. Nếu
như giai đoạn 1986-1990, tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta chỉ đạt 4,4%/năm,
thì đến giai đoạn 1991-1995 là 8,2%/năm; giai đoạn 1996-2000 là 7,6%/năm; giai
đoạn 2001-2005 là 7,34%; giai đoạn 2006-2010 là 6,32%/năm; năm 2016 là 6,21%
năm 2017 là 6,81% ; và năm 2018 là 7,08%.
+ Chất lượng tăng trưởng từng
bước được cải thiện, trình độ công nghệ trong sản xuất được nâng lên. Đóng góp
của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP giai đoạn
2001-2005 đạt 21,4%, giai đoạn 2006-2010 đạt 17,2%, đến giai đoạn 2011-2015 tăng
lên 28,94%. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, nợ công có xu hướng
giảm dần, dự trữ ngoại tệ tăng, đạt mức an toàn. Thu nhập bình quân đầu người từ
khoảng 100 USD/người/năm vào năm 1986, lên 471 USD/người/năm vào năm 2003. Năm
2015, quy mô nền kinh tế nước ta đạt 204 tỷ USD, bình quân đầu người 2300
USD/người/năm. Năm 2017, quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành đạt 5.007,9
nghìn tỷ đồng, tương ứng hơn 220 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người khoảng
2385 USD/người/năm. GDP bình quân đầu
người năm 2018 ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD (28/12/2018). Theo cách tính mới, tính cả tốc độ tăng trưởng năm 2018 và nửa đầu năm 2019, quy
mô nền kinh tế của Việt Nam đã vượt con số 300 tỷ USD. GDP bình quân đầu người
của Việt Nam nhờ đó tăng lên ngưỡng 3.000 USD.
- Thứ hai, về kết quả huy động nguồn vốn đầu tư
Giai đoạn
1986-2017, để tạo nguồn lực tài chính cho phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã
khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, các thành phần kinh tế bỏ
vốn đầu tư phát triển kinh tế. Kết quả là tổng vốn đầu tư toàn xã hội của nước
ta ngày càng tăng. Nếu như giai đoạn 1998-2000, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt
117,9 nghìn tỷ đồng, đến năm 2017 đạt 1667,4 nghìn tỷ đồng, tăng gấp hơn 14 lần
so với giai đoạn 1998-2000. Cơ cấu vốn đầu tư theo thành phần kinh tế cũng có sự
dịch chuyển theo hướng tích cực, thể hiện ở chỗ: vốn đầu tư phát triển của khu
vực nhà nước đã giảm xuống; khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn ĐTNN tăng
lên. Nếu như giai đoạn 1986-2000, vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước chiếm
54,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; khu vực kinh tế là 24,1%; khu vực kinh tế có
vốn ĐTNN là 21,6% thì đến năm 2017, cơ cấu vốn đầu tư theo thành phần lần lượt
là: 35,6%; 40,6% và 23,8% .
- Thứ ba, về tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu:
Từ năm 1986, nước
ta thực hiện mô hình nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa, hội nhập với
khu vực và quốc tế, nhờ đó sức sản xuất trong nước được giải phóng, các thành
phần kinh tế phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng tăng. Nhu cầu
tiêu thụ, trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế không ngừng mở rộng.
Do đó, xuất nhập khẩu hàng hóa tăng đột biến, nếu năm 1986 tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu mới đạt 2.944 triệu USD, trong đó, xuất khẩu đạt 789 triệu USD, nhập
khẩu 2.155 triệu USD, thì năm 2017, tức là sau 31 năm, tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu lên tới 425 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 213,96 tỷ USD, nhập khẩu đạt
211,04 tỷ USD, xuất siêu hơn 2,9 tỷ USD.
- Thứ tư, về các vấn đề an sinh xã
hội:
+ Với mục tiêu định hướng
XHCN, Đảng ta luôn thống nhất quan điểm tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến
bộ và công bằng xã hội. Do đó, các vấn đề về an sinh xã hội cơ bản được đảm bảo,
hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi cho mọi người đều phát triển khá đồng bộ và
ngày càng được cải thiện.
+ Vấn đề lao động việc làm,
năng suất lao động và tỷ lệ thất nghiệp đều phát triển theo hướng tích cực. Cụ
thể: Số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực
của nền kinh tế, tăng từ 37.975 nghìn người vào năm 2000, lên 53.718 nghìn người
vào năm 2017 tăng 41,4%, bình quân mỗi năm tăng 2,4%/năm; năng suất lao động xã
hội năm 2005 đạt 21,4 triệu đồng/người, đến năm 2017 đạt 93,2 triệu đồng/người.
Như vậy, trong vòng 12 năm, năng suất lao động xã hội tăng 3,35 lần, bình quân
tăng 27,9%/năm; tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta thấp và có xu hướng giảm dần từ
2,88% năm 2010, xuống 2,24% vào năm 2017.
+ Vấn đề xóa đói, giảm nghèo
là một trong nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền, tổ chức
chính trị - xã hội và của toàn dân, được tổ chức thực hiện nghiêm túc, chu đáo,
từ khâu xác định chuẩn nghèo cho từng giai đoạn phù hợp với trình độ phát triển
của nền kinh tế và mức sống bình quân của dân cư. Các chương trình, dự án đầu
tư nhằm tạo điều kiện cho các hộ nghèo, vùng đặc biệt khó khăn để mọi người
tham gia sản xuất kinh doanh vươn lên thoát nghèo và trở thành hộ khá giả, nên
hộ nghèo cả nước đã giảm dần qua các giai đoạn phát triển. Chương trình xóa đói
giảm nghèo ở nước ta được các tổ chức quốc tế đánh giá là thành công và đó là
do sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp, các đoàn thể chính trị,
xã hội, của toàn dân và đặc biệt là nỗ lực thoát nghèo của bản thân các hộ
nghèo.
+ Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức
khỏe nhân dân ngày càng được quan tâm như: Tích cực triển khai nhiều giải pháp
giảm quá tải bệnh viện; Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống các bệnh viện tuyến
huyện, tuyến tỉnh và tuyến cuối. Đội ngũ cán bộ y tế phát triển cả về số lượng
và chất lượng đối với cả y tế công lập và tư nhân.
2.
Khó khăn:
- Bên cạnh đó, nền kinh tế hàng hoá nước ta còn
bộc lộ rất nhiều yếu kém như: trình độ khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, hệ thống
pháp luật còn nhiều bất cập… Đảng và Nhà nước ta đã và đang có những chính
sách, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trên. Xu hướng chung của phát triển
kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời sự
phát triển và hoà nhập quốc tế. Với quan điểm hợp tác hai bên cùng có lợi, tôn
trọng độc lập chủ quyền của nhau,Việt Nam đã và đang tạo dựng được những mối
quan hệ tốt đẹp với nhiều nước trên thế giới; tham gia vào những tổ chức kinh tế
xã hội như: ASIAN, AFTA, WTO.
- Phải khẳng định là nền kinh tế nước ta phải đối
mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức lớn, đi lên từ một nền nông nghiệp nhỏ lạc hậu, nền kinh tế ta có đặc thù là sản
xuất nhỏ lẻ mang nặng tính tự cung tự cấp, sức cạnh tranh yếu. Trình độ công
nghệ sản xuất, quản lý, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém. chất lượng lao động được
đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu ngày một khắt khe của nền kinh tế, người dân
nước ta chưa có được cách nghĩ năng động, chính sách dù được cải thiện còn nhiều
bất cập... bên cạnh đó, các nền kinh tế khác và đặc biệt là Trung Quốc, khu vực Đông Nam
Á đã và đang lên mạnh mẽ và cạnh tranh gay gắt với Việt Nam... Do mục đích của
sản xuất hàng hoá không phải để thoả mãn nhu cầu của bản thân người sản xuất
như trong kinh tế tự nhiên mà để thoả mãn nhu cầu của người khác, của thị trường.
Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy
sản xuất phát triển.
- Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người
sản xuất hàng hoá phải năng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên
cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất
lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hoá và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều
hơn. Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.
- Sự phát triển của sản
xuất xã hội với tính chất "mở" của các quan hệ hàng hoá tiền tệ làm
cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các địa phương trong nước và quốc tế ngày
càng phát triển. Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật chất và
văn hoá của nhân dân cấp, tự túc của nền kinh tế, tất yếu phải phát triển sản
xuất hàng hoá để phát huy những ưu thế của nền kinh tế .
3. Hướng đi của nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam:
Phát triển kinh tế hàng hoá là con đường dân chủ đời sống kinh tế, phải giải
phóng tiềm năng phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế. Phát triển công
nghiệp theo hướng tập trung đầu tư khai thác có hiệu quả tiềm năng về thuỷ điện;
khai thác lợi thế về nguồn nguyên liệu để đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế
biến nông, lâm sản như công nghiệp chế biến cao su, điều, cà phê, bông vải và
các loại nông sản khác, chế biến sản phẩm chăn nuôi, hàng mộc cao cấp xuất khẩu,
vật liệu xây dựng, các ngành hàng tiểu thủ công nghiệp truyền thống,… Tăng cường
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đây là yếu tố nền tảng, tạo tiền đề cho quá
trình phát triển, là trọng điểm xuyên suốt trong quy hoạch phát triển 10 - 15
năm tới. Ưu tiên đầu tư hoàn thiện mạng lưới giao thông và hệ thống thuỷ lợi.
Tiếp tục xây dựng các mạng lưới điện, cấp nước, bưu chính viễn thông. Đầu tư cơ
sở hạ tầng vùng biên giới. Phát triển và mở rộng hệ thống đô thị, xây dựng thành
phố Buôn Ma Thuột trở thành đô thị hạt nhân và là trung tâm chính trị, kinh tế,
văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học kỹ thuật, y tế, dịch vụ, du lịch, thể dục
thể thao của tỉnh Đăk Lăk và vùng Tây Nguyên. Phối hợp chặt chẽ với các Bộ,
ngành Trung ương trong việc tham gia tích cực vào quá trình phát triển cùng với
các địa phương, lãnh thổ trong Tam giác Việt Nam - Lào - Cămpuchia. Tạo bước
chuyển biến vượt bậc trong du lịch, dịch vụ với mức tăng trưởng cao. Tập trung
đầu tư các cụm du lịch trọng điểm Buôn Ma Thuột, Buôn Đôn, hồ Lăk v.v… Nâng cao
năng lực và chất lượng, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
Tăng cường liên doanh liên kết với các vùng lân cận và cả nước, đặc biệt là với
TP. Hồ Chí Minh, vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Duyên Hải miền Trung trong
phát triển du lịch, dịch vụ, xuất khẩu, trao đổi hàng hóa. Phát triển nông,
lâm, nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại hoá, công nghiệp hoá, đầu
tư chiều sâu, tăng cường áp dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất và chất
lượng sản phẩm. Hình thành các vùng trọng điểm, sản xuất tập trung cây trồng, vật
nuôi chủ lực, mũi nhọn của tỉnh. Đẩy mạnh việc giao đất giao rừng, tổ chức khuyến
nông, khuyến lâm và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ổn định sản xuất,
nâng cao đời sống. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đào tạo
tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý, các doanh nhân, công nhân
lành nghề; xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ và tăng cường ứng dụng khoa học
công nghệ vào sản xuất và đời sống.