Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2019

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2019

thumbnail

Lời mở đầu


Trong thời kì đầu của xã hội loài người do sự lạc hậu của lực lượng sản xuất nên sản xuất của xã hội mang tính tự cung tự cấp khiến nhu cầu của con người bị bó hẹp trong một phạm vi, giới hạn nhất định. Khi lực lượng sản xuất phát triển và có nhiều thành tựu mới, con người dần thoát khỏi nền kinh tế tự nhiên và chuyển sang nền kinh tế hàng hóa. Nền kinh tế hàng hóa phát triển càng mạnh mẽ và đến đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường. Sản xuất hàng hóa là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sản xuất hàng hóa được ví như một mắt xích quan trọng trong guồng máy của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng, nhất là trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, không những góp phần đắc lực vào quá trình thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển mà còn mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế cả về các lĩnh vực khác. Sản xuất hàng hóa là một quá trình tạo ra sản phẩm hàng hóa nhằm đáp ứng và làm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Trong thời đại nền kinh tế mở và cạnh tranh như hiện nay, mỗi quốc gia phải nghiên cứu tìm ra hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, phù hợp với khu vực thế giới và thời đại. Chính vì vậy việc nghiên cứu về điều kiện ra đời, đặc trưng, ưu thế của sản xuất hàng hóa là vô cùng quan trọng, từ đó ta có thể liên hệ với nước ta và làm cho quá trình sản xuất hàng hóa của nước ta ngày càng phát triển với chất lượng cao hơn. Bài tiểu luận của em sẽ trình bày những lý luận của Mác-Lenin về sản xuất hàng hóa, được nghiên cứu bằng phương pháp đánh giá sự vật hiện tượng trong mối liên hệ và phát triển không ngừng (dựa trên quan điểm duy vật biện chứng) – phương pháp trừu tượng hóa khoa học đặc thù của kinh tế chính trị. Do những hạn chế cả về mặt kiến thức và mặt thời gian bài tiểu luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo. Em xin chân thành cảm ơn.

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

thumbnail

Sơ lược về sản xuất hàng hóa


Sản xuất hàng hoá là hình thức tổ chức sản xuất mà sản phẩm làm ra dùng để bán hoặc trao đổi trên thị trường. Đây cũng là hình thứ tổ chức sản xuất phổ biến trên thế giới và là cơ sở cho tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
 Sản xuất hàng hóa đã từng tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã hội . Trong các hình thái xã hội trước Chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hoá chưa phát triển. Đầu tiên nền kinh tế tự cung tự cấp xuất hiện, gắn liền với nền kinh tế tự nhiên sau đó xuất hiện sự chuyên môn hóa. Đến thời kỳ Tư bản chủ nghĩa, nó đã phát triển tới đỉnh cao nhất, trở thành quan hệ thống trị, phổ biển trong xã hội. Cho đến xã hội xã hội chủ nghĩa, sản xuất hàng hoá vẫn còn quy luật giá trị - quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vẫn còn hoạt động, mặc dù mục đích của sản xuất xã hội chủ nghĩa là nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và văn hoá của mọi thành viên trong xã hội, chứ không phải để buôn bán nhằm thu lợi nhuận.

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2019

thumbnail

Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa


Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi sản xuất hàng hóa có đủ hai điều kiện:
- Sự xuất hiện của phân công lao động xã hội:
+ Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội vào các ngành nghề khác nhau trong đó mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định.
+ Biểu hiện của sự phân công lao động xã hội: trình độ phân công lao động xã hội ngày càng chi tiết.
+ Cơ sở của sự phân công lao động xã hội dựa vào ưu thế, lợi thế tự nhiên; khả năng kỹ thuật; sở trường năng khiếu của từng người, từng đơn vị,…
+ Vai trò: Sự xuất hiện và phát triển của phân công lao động xã hội là khách quan, tất yếu. Sự phân công lao động xã hội là tiền đề của sản xuất hàng hóa vì kéo theo chuyên môn hóa sản xuất. Mỗi người, mỗi đơn vị chỉ sản xuất một hoặc vài loại sản phẩm nhất định tuy nhiên nhu cầu cuộc sống đòi hỏi phải có nhiều sản phẩm khác nhau, do đó dẫn đến nhu cầu trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất. Từ đây trao đổi hàng hóa xuất hiện dẫn đến sự ra đời của sản xuất hàng hóa . Điều này còn góp phần tăng năng suất lao động chính vì vậy ngày càng có nhiều sản phẩm thặng dư được mang đi trao đổi. Như vậy, có thể nói, phân công lao động xã hội chính là cơ sở, là tiền đề, là điều kiện cần của quá trình sản xuất, trao đổi hàng hóa.

- Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất:
+ Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất biểu hiện ra là tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội thuộc về các chủ thể (các cá nhân, các gia đình…) trong xã hội. Do sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng thì sự tách biệt về kinh tế không chỉ ở sự khác biệt về quyền sở hữu mà còn khác biệt ở quyền sử dụng những khối lượng tư liệu sản xuất khác nhau của cùng một chủ thể sở hữu.
+ Những người sản xuất hàng hóa có quyền độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm. Khi sự tách biệt về kinh tế giữa những chủ thể sản tồn tại trong điều kiện có sự phân công lao động xã hội thì việc trao đổi sản phẩm giữa những chủ thể khác nhau phải đảm bảo được lợi ích của họ. Điều đó chỉ có thể có được khi trao đổi dựa trên nguyên tắc ngang giá, có đi có lại tức là trao đổi hàng hóa, sản phẩm của lao động trở thành hàng hóa.
Kết luận: sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa.

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2019

thumbnail

Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa


Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng "mông muội", xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội.
1. Đặc trưng của sản xuất hàng hóa:
- Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán, không phải để người sản xuất ra nó tiêu dùng. Theo chủ nghĩa Mac-Lênin thì trong lịch sử loài tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp (tự túc, tự cấp) và sản xuất hàng hóa. Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người dân trong thời kỳ công xã nguyên thủy, sản xuất của những người nông dân gia trưởng dưới chế độ phong kiến... Trong khi đó, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán.
- Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính chất xã hội vừa mang tính chất tư nhân, lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội. Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người. Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa. Theo chủ nghĩa Mac-Lênin thì mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hóa.
- Mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải là giá trị sử dụng.

2. Ưu thế của sản xuất hàng hóa:
- Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất.Chính vì thế, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa phương. Bên cạnh đó, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn. Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia, thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau.
- Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội. Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất... thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh... buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn.
- Sản xuất hàng hóa quy mô lớn có ưu thế so với sản xuất tự cấp tự túc về quy mô, trình độ kỹ thuật, Công nghệ, về khả năng thỏa mãn nhu cầu... Vì vậy, sản xuất hàng hóa quy mô lớn là hình thức tổ chức kinh tế xã hội hiện đại phù hợp với xu thế thời đại ngày nay.
- Sản xuất hàng hóa là sản xuất cho người khác, cho xã hội, sản xuất để bán, vì mục tiêu lợi nhuận, do đó nó tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Còn sản xuất tự cung tự cấp với mục đích sản xuất ra những giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất, nên không tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Trong sản xuất tự cung tự cấp, quy mô nhỏ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có của tự nhiên, nhu cầu thấp, trình độ dân trí thấp nên không có cạnh tranh, không tạo ra động lực mạnh mẽ phát triển khoa học - công nghệ để phát triển kinh tế có hiệu quả.
Sản xuất hàng hóa với năng suất lao động cao, chất lượng hàng hóa tốt và khối lượng ngày càng nhiều, chủng loại đa dạng và phong phú làm cho thị trường được mở rộng, giao lưu kinh tế - xã hội giữa các vùng, các miền, các địa phương và quốc tế phát triển, tạo điều kiện thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao cũng như sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi thành viên trong xã hội. Ngược lại với sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất kém phát triển, mang tính khép kín, sản phẩm sản xuất ra không đủ tiêu dùng vì thế đời sống vật chất và tinh thần của người lao động thấp, không có điều kiện để mở rộng hoạt động giao lưu kinh tế - xã hội giữa các vùng miền...
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực như đã nêu trên, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái của nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá hoại môi trường, hệ sinh thái, xã hội, v.v..

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2019

thumbnail

Vận dụng sản xuất hàng hóa vào nền kinh tế thị trường ở Việt Nam


Theo quan điểm của C.Mác-kinh tế hàng hoá không phải là một phương thức sản xuất độc lập mà là một hình thức tổ chức kinh tế tồn tại trong các phương thức xã hội. Với phạm vi và mức độ khác nhau,tuy cùng là nền kinh tế hàng hoá nhưng bản chất của xã hội quy định đặc điểm của kinh tế hàng hoá của xã hội đó. Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa nên vai trò quản lý của nhà nước định hướng nền kinh tế hàng hoá theo chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đất nước ta vốn là thuộc địa nửa phong kiến với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội rất thấp. Đất nước lại trải qua hàng chục năm chiến tranh để lại hậu quả nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến còn nhiều, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Chính vì vậy, nhà nước ta khẳng định chỉ có thể phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần mới phát triển được lực lượng sản xuất;mới thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá; mới đẩy lùi được kinh tế tự nhiên; khắc phục được hậu quả của kinh tế kế hoạch hoá tập trung; mới làm cho kinh tế nước ta hoà nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. Đại hội VI của Đảng năm1986 đã đặt nền móng vững chắc cho quan điểm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Sự phát triển sản xuất, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước... không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn. Nền sản xuất hàng hóa ở nước ta thời gian qua là một nền sản xuất vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều chỉnh của chính phủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa. đứng trước vận hội mới của đất nước, nền sản xuất hàng hóa ở nước ta có những thuận lợi nhất định và những khó khăn không nhỏ.
1. Thành tựu đạt được:
- Thứ nhất, về tốc độ tăng trưởng kinh tế
            + Trong hơn 30 năm qua (1986-2018), tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta
tuy có sự dao động nhất định, song vẫn ở mức cao hơn trung bình khu vực và thế giới với mức tăng bình quân cả thời kỳ gần 7%/năm. Nếu như giai đoạn 1986-1990, tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta chỉ đạt 4,4%/năm, thì đến giai đoạn 1991-1995 là 8,2%/năm; giai đoạn 1996-2000 là 7,6%/năm; giai đoạn 2001-2005 là 7,34%; giai đoạn 2006-2010 là 6,32%/năm; năm 2016 là 6,21% năm 2017 là 6,81% ; và năm 2018 là 7,08%.
            + Chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện, trình độ công nghệ trong sản xuất được nâng lên. Đóng góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2001-2005 đạt 21,4%, giai đoạn 2006-2010 đạt 17,2%, đến giai đoạn 2011-2015 tăng lên 28,94%. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, nợ công có xu hướng giảm dần, dự trữ ngoại tệ tăng, đạt mức an toàn. Thu nhập bình quân đầu người từ khoảng 100 USD/người/năm vào năm 1986, lên 471 USD/người/năm vào năm 2003. Năm 2015, quy mô nền kinh tế nước ta đạt 204 tỷ USD, bình quân đầu người 2300 USD/người/năm. Năm 2017, quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng, tương ứng hơn 220 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người khoảng 2385 USD/người/năm
.  GDP bình quân đầu người năm 2018 ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD (28/12/2018). Theo cách tính mới, tính cả tốc độ tăng trưởng năm 2018 và nửa đầu năm 2019, quy mô nền kinh tế của Việt Nam đã vượt con số 300 tỷ USD. GDP bình quân đầu người của Việt Nam nhờ đó tăng lên ngưỡng 3.000 USD.
- Thứ hai, về kết quả huy động nguồn vốn đầu tư
                        Giai đoạn 1986-2017, để tạo nguồn lực tài chính cho phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư phát triển kinh tế. Kết quả là tổng vốn đầu tư toàn xã hội của nước ta ngày càng tăng. Nếu như giai đoạn 1998-2000, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 117,9 nghìn tỷ đồng, đến năm 2017 đạt 1667,4 nghìn tỷ đồng, tăng gấp hơn 14 lần so với giai đoạn 1998-2000. Cơ cấu vốn đầu tư theo thành phần kinh tế cũng có sự dịch chuyển theo hướng tích cực, thể hiện ở chỗ: vốn đầu tư phát triển của khu vực nhà nước đã giảm xuống; khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn ĐTNN tăng lên. Nếu như giai đoạn 1986-2000, vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước chiếm 54,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; khu vực kinh tế là 24,1%; khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là 21,6% thì đến năm 2017, cơ cấu vốn đầu tư theo thành phần lần lượt là: 35,6%; 40,6% và 23,8% .
- Thứ ba, về tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu:
                        Từ năm 1986, nước ta thực hiện mô hình nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa, hội nhập với khu vực và quốc tế, nhờ đó sức sản xuất trong nước được giải phóng, các thành phần kinh tế phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng tăng. Nhu cầu tiêu thụ, trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế không ngừng mở rộng. Do đó, xuất nhập khẩu hàng hóa tăng đột biến, nếu năm 1986 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu mới đạt 2.944 triệu USD, trong đó, xuất khẩu đạt 789 triệu USD, nhập khẩu 2.155 triệu USD, thì năm 2017, tức là sau 31 năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới 425 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 213,96 tỷ USD, nhập khẩu đạt 211,04 tỷ USD, xuất siêu hơn 2,9 tỷ USD.
- Thứ tư, về các vấn đề an sinh xã hội:
            + Với mục tiêu định hướng XHCN, Đảng ta luôn thống nhất quan điểm tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Do đó, các vấn đề về an sinh xã hội cơ bản được đảm bảo, hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi cho mọi người đều phát triển khá đồng bộ và ngày càng được cải thiện.
            + Vấn đề lao động việc làm, năng suất lao động và tỷ lệ thất nghiệp đều phát triển theo hướng tích cực. Cụ thể: Số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, tăng từ 37.975 nghìn người vào năm 2000, lên 53.718 nghìn người vào năm 2017 tăng 41,4%, bình quân mỗi năm tăng 2,4%/năm; năng suất lao động xã hội năm 2005 đạt 21,4 triệu đồng/người, đến năm 2017 đạt 93,2 triệu đồng/người. Như vậy, trong vòng 12 năm, năng suất lao động xã hội tăng 3,35 lần, bình quân tăng 27,9%/năm; tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta thấp và có xu hướng giảm dần từ 2,88% năm 2010, xuống 2,24% vào năm 2017.
            + Vấn đề xóa đói, giảm nghèo là một trong nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội và của toàn dân, được tổ chức thực hiện nghiêm túc, chu đáo, từ khâu xác định chuẩn nghèo cho từng giai đoạn phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế và mức sống bình quân của dân cư. Các chương trình, dự án đầu tư nhằm tạo điều kiện cho các hộ nghèo, vùng đặc biệt khó khăn để mọi người tham gia sản xuất kinh doanh vươn lên thoát nghèo và trở thành hộ khá giả, nên hộ nghèo cả nước đã giảm dần qua các giai đoạn phát triển. Chương trình xóa đói giảm nghèo ở nước ta được các tổ chức quốc tế đánh giá là thành công và đó là do sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp, các đoàn thể chính trị, xã hội, của toàn dân và đặc biệt là nỗ lực thoát nghèo của bản thân các hộ nghèo.
            + Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được quan tâm như: Tích cực triển khai nhiều giải pháp giảm quá tải bệnh viện; Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống các bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh và tuyến cuối. Đội ngũ cán bộ y tế phát triển cả về số lượng và chất lượng đối với cả y tế công lập và tư nhân.
2. Khó khăn:
-  Bên cạnh đó, nền kinh tế hàng hoá nước ta còn bộc lộ rất nhiều yếu kém như: trình độ khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập… Đảng và Nhà nước ta đã và đang có những chính sách, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trên. Xu hướng chung của phát triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế. Với quan điểm hợp tác hai bên cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau,Việt Nam đã và đang tạo dựng được những mối quan hệ tốt đẹp với nhiều nước trên thế giới; tham gia vào những tổ chức kinh tế xã hội như: ASIAN, AFTA, WTO.
-  Phải khẳng định là nền kinh tế nước ta phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức lớn, đi lên từ một nền nông nghiệp nhỏ lạc hậu, nền kinh tế ta có đặc thù là sản xuất nhỏ lẻ mang nặng tính tự cung tự cấp, sức cạnh tranh yếu. Trình độ công nghệ sản xuất, quản lý, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém. chất lượng lao động được đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu ngày một khắt khe của nền kinh tế, người dân nước ta chưa có được cách nghĩ năng động, chính sách dù được cải thiện còn nhiều bất cập... bên cạnh đó, các nền kinh tế khác và đặc biệt là Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á đã và đang lên mạnh mẽ và cạnh tranh gay gắt với Việt Nam... Do mục đích của sản xuất hàng hoá không phải để thoả mãn nhu cầu của bản thân người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà để thoả mãn nhu cầu của người khác, của thị trường. Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
-  Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hoá phải năng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hoá và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn. Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.
- Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất "mở" của các quan hệ hàng hoá tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các địa phương trong nước và quốc tế ngày càng phát triển. Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân cấp, tự túc của nền kinh tế, tất yếu phải phát triển sản xuất hàng hoá để phát huy những ưu thế của nền kinh tế .
3. Hướng đi của nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam:
Phát triển kinh tế hàng hoá là con đường dân chủ đời sống kinh tế, phải giải phóng tiềm năng phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế. Phát triển công nghiệp theo hướng tập trung đầu tư khai thác có hiệu quả tiềm năng về thuỷ điện; khai thác lợi thế về nguồn nguyên liệu để đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản như công nghiệp chế biến cao su, điều, cà phê, bông vải và các loại nông sản khác, chế biến sản phẩm chăn nuôi, hàng mộc cao cấp xuất khẩu, vật liệu xây dựng, các ngành hàng tiểu thủ công nghiệp truyền thống,… Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đây là yếu tố nền tảng, tạo tiền đề cho quá trình phát triển, là trọng điểm xuyên suốt trong quy hoạch phát triển 10 - 15 năm tới. Ưu tiên đầu tư hoàn thiện mạng lưới giao thông và hệ thống thuỷ lợi. Tiếp tục xây dựng các mạng lưới điện, cấp nước, bưu chính viễn thông. Đầu tư cơ sở hạ tầng vùng biên giới. Phát triển và mở rộng hệ thống đô thị, xây dựng thành phố Buôn Ma Thuột trở thành đô thị hạt nhân và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học kỹ thuật, y tế, dịch vụ, du lịch, thể dục thể thao của tỉnh Đăk Lăk và vùng Tây Nguyên. Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành Trung ương trong việc tham gia tích cực vào quá trình phát triển cùng với các địa phương, lãnh thổ trong Tam giác Việt Nam - Lào - Cămpuchia. Tạo bước chuyển biến vượt bậc trong du lịch, dịch vụ với mức tăng trưởng cao. Tập trung đầu tư các cụm du lịch trọng điểm Buôn Ma Thuột, Buôn Đôn, hồ Lăk v.v… Nâng cao năng lực và chất lượng, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Tăng cường liên doanh liên kết với các vùng lân cận và cả nước, đặc biệt là với TP. Hồ Chí Minh, vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Duyên Hải miền Trung trong phát triển du lịch, dịch vụ, xuất khẩu, trao đổi hàng hóa. Phát triển nông, lâm, nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại hoá, công nghiệp hoá, đầu tư chiều sâu, tăng cường áp dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Hình thành các vùng trọng điểm, sản xuất tập trung cây trồng, vật nuôi chủ lực, mũi nhọn của tỉnh. Đẩy mạnh việc giao đất giao rừng, tổ chức khuyến nông, khuyến lâm và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ổn định sản xuất, nâng cao đời sống. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đào tạo tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý, các doanh nhân, công nhân lành nghề; xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống.